Vì sao các chính sách hỗ trợ, khuyến khích sinh con khó hiệu quả?

Thay vì cố gắng đảo ngược xu hướng sụt giảm tỷ lệ sinh bằng tiền bạc, các nền kinh tế cần học cách thích nghi với thực tế mới.

Có một thực tế, khi tỷ lệ sinh chạm đáy, đa phần các quốc gia sẽ đổ tiền vào các chính sách hỗ trợ, khuyến khích phụ nữ sinh con. Tại Pháp, Chính phủ chi khoảng 3,5% – 4% GDP mỗi năm cho các chính sách gia đình. Tổng thống Emmanuel Macron kỳ vọng có thể “tái vũ trang nhân khẩu học” (Demographic Rearmament) toàn nước Pháp, cho thấy sự sụt giảm dân số hiện là một mối đe dọa đối với quốc gia này.

Ở châu Á, Chính phủ Hàn Quốc đang cân nhắc mức trợ cấp sinh sản 70.000 USD (khoảng 1,8 tỷ VNĐ) cho mỗi em bé chào đời. Tuy nhiên, mọi nỗ lực này dường như đều cầm chắc thất bại vì chúng dựa trên những nhận định sai lầm.

Nỗi lo về thực trạng giảm tỷ lệ sinh của các chính phủ là có cơ sở. Tỷ lệ sinh đang sụt giảm nghiêm trọng ở nhiều quốc gia. Các nước đã phát triển hiện phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt trẻ em trầm trọng. Với tốc độ hiện tại, một phụ nữ trung bình tại các nước đã phát triển chỉ có 1,6 con trong suốt cuộc đời; ngoại trừ Israel, mọi quốc gia giàu có đều có tỷ lệ sinh dưới mức thay thế (2,1%). Đây là mức cần thiết để duy trì quy mô dân số Israel ổn định mà không cần di cư hay nhập cư. 

Tỷ phú Elon Musk từng cảnh báo rằng xu hướng này đe dọa sự tồn vong của nền văn minh nhân loại. Với tỷ lệ sinh 1,6, mỗi thế hệ sau sẽ ít hơn thế hệ trước 25% dân số nếu không có nhập cư. Tại Hàn Quốc, nơi tỷ lệ sinh chỉ còn 0,7, dân số dự kiến sẽ giảm tới 60% vào cuối thế kỷ này.

Một xã hội già hóa và thu hẹp chắc chắn sẽ mất đi động lực tăng trưởng, đồng thời làm giảm sức mạnh quốc gia. Gánh nặng ngân sách sẽ trở thành cơn ác mộng khi nhóm người trong độ tuổi lao động phải gánh vác chi phí hưu trí và chăm sóc y tế cho một nhóm lớn những người già không còn khả năng lao động.

Ảnh minh họa.

Nhiều chính phủ tin rằng tỷ lệ sinh giảm là do phụ nữ có học thức trì hoãn việc làm mẹ để theo đuổi sự nghiệp. Từ đó, các quốc gia này tiếp tục tập trung vào ưu đãi thuế và trợ cấp chăm sóc trẻ em để phụ nữ không phải chọn một trong hai.

Nhưng thực tế không phải vậy. Tại Mỹ, độ tuổi sinh con đầu lòng của phụ nữ có bằng đại học chỉ tăng nhẹ từ 28 (năm 2000) lên 30 (năm 2026). Nhóm này vẫn sinh số lượng con gần tương đương với thế hệ trước.

Thực tế, sự sụt giảm phần lớn nằm ở nhóm phụ nữ trẻ và nghèo hơn. Hơn một nửa mức giảm tỷ lệ sinh tại Mỹ kể từ năm 1990 là do sự sụt giảm số ca sinh ở phụ nữ dưới 19 tuổi. Đây vốn là kết quả của các nỗ lực kéo dài hàng thập kỷ nhằm hạn chế mang thai ở tuổi vị thành niên và khuyến khích phụ nữ đi học, đi làm, vốn là những thành tựu chính sách công rực rỡ nhất thời hậu chiến. Nếu giờ đây các chính trị gia dùng tiền để khuyến khích nhóm phụ nữ trẻ, nghèo sinh con sớm, họ đang đi ngược lại những tiến bộ xã hội này.

Không tính đến các vấn đề xã hội khác, các biện pháp khuyến khích tài chính cho thấy hiệu quả rất thấp trong khi số tiền bỏ ra không hề nhỏ. Thụy Điển là quốc gia có chương trình chăm sóc trẻ em hào phóng nhưng tỷ lệ sinh cũng chỉ dừng ở mức 1,7. Đó là vì phần lớn tiền trợ cấp của chính phủ lại rơi vào những gia đình vốn dĩ đã có kế hoạch sinh con, khiến khoản tiền ấy chưa phát huy đúng chức năng của mình.

Tại Ba Lan và Pháp, các chương trình khuyến khích sinh sản tiêu tốn khoảng 1 – 2 triệu USD cho mỗi một “em bé tiếp theo”. Rất ít cá nhân có năng suất lao động đủ cao để tạo ra lợi ích tài chính bù đắp được khoản đầu tư khổng lồ đó của nhà nước.

Thay vì cố gắng “ép” các gia đình sinh thêm con, các chính phủ nên tập trung vào việc thích nghi với sự thay đổi của xã hội. 

Thứ nhất, cần chấp nhận rằng người già sẽ phải làm việc lâu hơn để giảm bớt gánh nặng cho ngân sách công.

Thứ hai, cần thúc đẩy công nghệ. Khuyến khích đổi mới sáng tạo, ứng dụng AI và robot để tăng năng suất lao động toàn xã hội và hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi.

Thứ ba, cần thu hút lao động kỹ thuật số cao để lấp đầy khoảng trống tài chính, dù đây chỉ là giải pháp tạm thời khi tỷ lệ sinh toàn cầu đang giảm.

Thay vì đổ tiền vào những chính sách sinh sản tốn kém và lạc hậu, việc chuẩn bị một nền kinh tế linh hoạt và công nghệ hóa mới là chìa khóa để vượt qua cuộc chuyển giao nhân khẩu học này.

Thùy Linh (dịch từ The Economist)

Để lại một bình luận

Có thể bạn quan tâm

Phụ nữ Bỉ phải tìm cách vào tù để được trả lương bình đẳng

Trong một chiến dịch truyền thông mới đây, nhiều phụ nữ Bỉ được khắc họa...

Linh Thuy
10 Tháng 5, 2026
Công nhận hôn nhân đồng giới ở Hà Lan và một số gợi mở cho Việt Nam

Năm 2001, Hà Lan trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới mở cánh...

Linh Thuy
10 Tháng 5, 2026
Nhật Bản và Hàn Quốc cùng ghi nhận quyền lợi cho cộng đồng LGBTQ+

Dù không phải là một “cuộc cách mạng” bùng nổ, nhưng những thay đổi về...

Linh Thuy
9 Tháng 5, 2026